Minh văn trên chuông, khánh cổ là phần chữ được đúc nổi hoặc khắc chìm trên thân pháp khí, thường gồm tên chuông, một bài tựa kể duyên do, một bài minh bằng văn vần, dòng ghi niên hiệu và ngày tháng, tên người soạn, người viết chữ, thợ đúc, và danh sách người góp công đức. Với giới nghiên cứu, đây là nguồn tư liệu gốc quý không kém bia đá, vì nó ghi lại đời sống một ngôi chùa và một cộng đồng làng vào đúng thời điểm đúc.
Bài này giải thích từng phần thường gặp của một bài minh văn, vì sao người làm sử làng xã, sử Phật giáo, sử ngôn ngữ đều tìm đến nó, và nhà chùa, người trong làng có thể làm gì để giữ tư liệu này cho đúng cách. Bài không dịch hay trích minh văn của quả chuông cụ thể nào: việc đọc chữ Hán Nôm trên đồng cổ cần người có chuyên môn, và một chữ đọc sai có thể làm lệch cả niên đại lẫn tên người.
Minh là gì và vì sao chữ lại nằm trên chuông
Trong văn học chữ Hán, "minh" là một thể văn dùng để khắc lên đồ vật, bia, chuông, đỉnh, nhằm ghi công, răn mình hoặc nói ý nghĩa của vật. Bài minh thường ngắn, viết bằng câu có vần, nhiều khi mỗi câu bốn chữ. Khắc chữ lên đồ đồng là truyền thống rất lâu đời ở Đông Á, và chuông chùa Việt Nam kế thừa truyền thống ấy.
Vì sao lại khắc lên chuông? Một quả chuông là công trình chung, tốn nhiều đồng và công sức của cả cộng đồng. Ghi chữ lên chuông vừa là cách tưởng nhớ người có công, vừa là cách nói với đời sau rằng việc này đã được làm vào năm ấy, bởi những người ấy. Chuông treo ở nơi công cộng, ai đến chùa cũng thấy, nên chữ trên chuông còn mang tính công khai như một bảng ghi nhận.
Khánh, đặc biệt là khánh đồng cỡ lớn, cũng thường mang minh văn, dù ngắn hơn vì diện tích bề mặt nhỏ. Đỉnh đồng, lư đồng trong chùa đôi khi có vài dòng chữ ghi năm đúc và người cúng. Cả nhóm hiện vật này được giới nghiên cứu xếp chung vào nhóm văn khắc trên kim khí, bên cạnh văn khắc trên đá và trên gỗ.
Các phần thường gặp trong một bài minh văn chuông
Tên chuông hoặc tiêu đề. Thường là một dòng chữ lớn hơn ở đầu, ghi tên chùa và chữ "chung" (chuông) hoặc "chung minh" (bài minh trên chuông). Từ dòng này có thể biết tên chữ của ngôi chùa, nhiều khi khác với tên nôm mà dân làng quen gọi.
Bài tựa. Đoạn văn xuôi kể duyên do đúc chuông: chùa ở đâu, cảnh trí thế nào, vì sao cần chuông mới, ai khởi xướng. Đoạn này hay có những câu ca ngợi cảnh chùa theo lối văn biền ngẫu, và cũng hay chứa các chi tiết địa lý quý giá.
Bài minh. Phần văn vần, thường ngắn, nói về ý nghĩa tiếng chuông theo cách hiểu nhà Phật và lời cầu chúc cho làng xóm. Đây là phần mang tính văn chương nhất, và cũng là phần dễ bị dịch "bay" nhất trên mạng.
Lạc khoản. Dòng ghi niên hiệu, năm, tháng, ngày đúc chuông, kèm tên người soạn văn, người viết chữ và đôi khi tên thợ đúc, quê thợ. Với người nghiên cứu, đây là dòng quý nhất để định niên đại và tìm hiểu nghề đúc.
Danh sách công đức. Phần dài nhất ở nhiều chuông làng: tên các hội chủ, tín thí, sư trụ trì, kèm số tiền hoặc số cân đồng đã góp. Danh sách này cho thấy cấu trúc làng, các dòng họ, vai trò của phụ nữ trong việc công đức, những điều mà sử chính thống ít khi ghi.
Vì sao người nghiên cứu quý minh văn đến vậy
Với sử học làng xã, minh văn là một trong số ít nguồn ghi tên người bình thường. Chính sử chép vua quan, còn danh sách công đức trên chuông chép những người nông dân, thợ thủ công, người buôn bán đã góp tiền cho chùa làng. Qua đó các nhà nghiên cứu dựng lại được tên làng cũ, ranh giới xã cũ, các dòng họ lớn và cách làng tổ chức việc chung.
Với sử Phật giáo, minh văn ghi tên các vị sư trụ trì, đôi khi cả pháp danh và dòng thiền, giúp nối lại những mắt xích trong lịch sử truyền thừa của từng vùng. Với ngôn ngữ học, những tên người, tên đất viết bằng chữ Nôm hoặc phiên âm trên chuông là tư liệu để nghiên cứu cách đọc, cách viết của tiếng Việt qua các thời.
Với mỹ thuật và kỹ thuật, dòng ghi tên thợ đúc và quê thợ giúp lần ra các làng nghề đúc đồng và phạm vi hoạt động của họ. Một làng đúc có thể để lại chuông ở nhiều tỉnh, và chính minh văn cho biết điều đó. Vì những lý do ấy, một bài minh văn bị mài mất, bị đục sửa hay bị nấu chảy cùng quả chuông là mất đi một trang sử không có bản sao.
Thác bản: cách giới nghiên cứu sao lưu minh văn
Cách truyền thống để sao chép chữ trên chuông, bia là làm thác bản, còn gọi là rập. Người làm phủ một lớp giấy mỏng lên bề mặt có chữ, làm ẩm cho giấy ôm sát, rồi dùng túi mực vỗ nhẹ để những chỗ nổi in màu đậm, chỗ chìm để trắng. Kết quả là một bản sao một đối một của toàn bộ bề mặt chữ, giữ được cả kích thước và bố cục.
Ở Việt Nam, một kho thác bản văn khắc rất lớn được hình thành từ đầu thế kỷ XX và hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Nhiều chuông, bia đã mất hoặc mờ chữ chỉ còn biết đến nhờ những bản rập này. Các viện nghiên cứu cũng đã xuất bản các bộ tổng tập giới thiệu thác bản, là nguồn tra cứu đáng tin cho người cần trích dẫn.
Cần nói rõ: làm thác bản trên đồng cổ không phải việc nên tự làm. Mực, nước và lực vỗ không đúng cách có thể làm bong lớp gỉ ổn định, để lại vết bẩn khó tẩy, thậm chí làm hỏng bề mặt đã yếu. Với hiện vật thuộc di tích đã xếp hạng, việc rập phải được ban quản lý cho phép và do người có chuyên môn thực hiện. Người dân và nhà chùa có thể làm phần dễ hơn mà vẫn rất có ích: chụp ảnh.
Chữ trên khánh, đỉnh và lư: ngắn hơn nhưng không kém giá trị
Không phải pháp khí nào cũng có chỗ cho một bài minh dài. Khánh đồng có bề mặt hẹp, thường chỉ đủ cho vài dòng ghi tên chùa, niên hiệu và tên người cúng. Khánh đá cổ đôi khi được khắc chữ chìm ở hai mặt, nét chữ nông và dễ mòn hơn chữ trên đồng. Đỉnh, lư đồng trong chùa có thể mang chữ ở thân, ở vành miệng hoặc ở đáy, nhiều khi nhỏ đến mức người đến lễ không bao giờ để ý.
Chính vì ngắn, những dòng chữ này thường cô đọng thông tin quý nhất: năm đúc và người cúng. Với một ngôi chùa đã mất bia, mất chuông, một chiếc khánh nhỏ còn ghi niên hiệu có khi là chứng cứ vật chất duy nhất về thời điểm chùa đã hoạt động. Người làm hồ sơ di tích vì thế không bỏ qua bất kỳ vật nào có chữ, kể cả những chiếc đế đèn, chân nến bằng đồng tưởng chừng bình thường.
Có một điểm cần lưu ý: chữ ở đáy đỉnh, lư thường chỉ thấy khi nhấc vật lên. Với hiện vật cổ, việc nhấc, lật, xoay phải có người trông coi cho phép và làm hai người trở lên, tránh để vật rơi hay va đập. Nếu không chắc chắn, chỉ chụp những gì nhìn thấy được từ bên ngoài và ghi chú lại rằng đáy chưa được kiểm tra.
Nhà chùa và người trong làng giữ tư liệu minh văn thế nào
Không cần thiết bị đắt tiền, một chùa làng vẫn có thể lưu lại minh văn của chuông, khánh cổ đủ tốt để nhà nghiên cứu sử dụng sau này. Trình tự gợi ý:
- Chọn ngày khô ráo, ánh sáng tự nhiên chiếu xiên; nếu cần đèn, dùng đèn chiếu nghiêng từ một phía để chữ nổi lên nhờ bóng đổ, không dùng flash thẳng.
- Chụp toàn thể quả chuông từ bốn hướng, rồi chụp từng ô có chữ, giữ máy song song với bề mặt, các tấm chồng lên nhau khoảng một phần ba.
- Đặt một thước đo nhỏ cạnh vùng chữ trong vài tấm ảnh để người xem sau này biết kích thước thật.
- Ghi chú cho mỗi bộ ảnh: tên chùa, vị trí treo, ngày chụp, người chụp, tình trạng hiện vật; lưu ảnh gốc, không chỉnh sửa màu.
- Lưu ít nhất hai bản ở hai nơi khác nhau, chẳng hạn một bản ở chùa và một bản gửi cơ quan văn hoá địa phương.
- Khi có người nghiên cứu đến đọc, đề nghị họ để lại cho chùa một bản phiên âm, dịch nghĩa để chùa lưu giữ cùng ảnh.
Một bộ ảnh tốt hôm nay có thể là thứ duy nhất còn lại nếu chẳng may quả chuông bị mất trộm, cháy hay hư hại. Đây là việc nhỏ mà giá trị lâu dài.
Những sai lầm hay gặp khi đọc và dùng minh văn
Minh văn chuông cổ xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng xã hội và các trang du lịch. Đi kèm là một số lỗi lặp đi lặp lại mà người viết nội dung nên tránh:
- Dịch bài minh từ ảnh chụp mờ, đoán chữ rồi đăng như bản dịch chuẩn; nên ghi rõ nguồn bản đọc và người dịch.
- Nhầm năm dựng chùa, năm trùng tu được nhắc trong bài tựa với năm đúc chuông ở lạc khoản.
- Đổi niên hiệu sang dương lịch bằng cách cộng trừ vội, lệch một năm vì quên rằng năm đầu niên hiệu là năm thứ nhất.
- Bỏ qua danh sách công đức vì "chỉ là tên người", trong khi đó là phần giàu tư liệu nhất về làng.
- Tô mực, sơn nhũ vàng vào chữ cho "dễ đọc", làm hỏng bề mặt gốc và che mất dấu vết tạo tác.
- Gắn minh văn của quả chuông này cho quả chuông khác cùng chùa khi ảnh không ghi chú rõ.
Cách an toàn khi viết là dẫn bản đọc của các nhà nghiên cứu Hán Nôm đã công bố, ghi rõ tên ấn phẩm, và nói thẳng khi một chi tiết chưa được đọc chắc chắn.
Câu hỏi thường gặp
Minh văn và văn bia khác nhau thế nào?
Cả hai đều là văn khắc, nhưng minh văn ở đây chỉ phần chữ trên đồ vật như chuông, khánh, đỉnh, thường ngắn hơn và gắn với chính vật đó. Văn bia khắc trên đá, có thể dài hơn nhiều và ghi các sự kiện như dựng chùa, lập làng, ban ruộng.
Chữ trên chuông là chữ Hán hay chữ Nôm?
Phần lớn minh văn chuông cổ viết bằng chữ Hán. Chữ Nôm xuất hiện chủ yếu trong tên người, tên đất hoặc một số đoạn ở chuông muộn. Từ thế kỷ XX có thêm chuông khắc chữ quốc ngữ, nhất là ở các chùa đúc chuông mới.
Người không biết chữ Hán có thể tự đọc minh văn không?
Có thể nhận ra một số chữ quen như tên niên hiệu hay chữ chung, nhưng đọc trọn một bài minh văn cần người học chữ Hán Nôm bài bản. Nên nhờ người có chuyên môn hoặc tìm bản đọc đã công bố, thay vì dựa vào phần mềm nhận chữ trên ảnh chụp.
Có nên tô màu vào chữ trên chuông cho dễ đọc không?
Không nên. Tô sơn, nhũ hay mực vào chữ làm thay đổi bề mặt gốc, che dấu vết tạo tác và có thể gây phản ứng với lớp gỉ. Muốn đọc rõ, hãy dùng ánh sáng chiếu xiên khi chụp ảnh, cách này không chạm vào hiện vật.
Tìm bản rập minh văn chuông ở đâu?
Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu giữ một kho thác bản văn khắc lớn và đã cùng các đơn vị khác xuất bản các bộ tổng tập. Thư viện của các viện nghiên cứu và bảo tàng tỉnh cũng có thể có tư liệu về chuông trong địa phương.
Danh sách công đức trên chuông có ích gì với con cháu hôm nay?
Nhiều gia đình tìm thấy tên tổ tiên mình trong danh sách công đức trên chuông, bia của chùa làng. Đó là manh mối quý để dựng lại gia phả, biết tổ tiên sống ở làng nào, vào thời nào, và đã góp sức vào việc chung ra sao.