PhapPham.comPháp Phẩm
Pháp khí cổ là di sản

Khánh cổ ở chùa Việt: khánh đá, khánh đồng và dáng khánh qua các thời

Khánh cổ là pháp khí ít người để ý nhưng giữ nhiều dấu vết lịch sử. Bài giới thiệu chất liệu, dáng khánh qua các thời, trang trí và cách nhìn cho đúng.

An old flat stone chime with a softly curved top hanging from a dark wooden frame in a dim village pagoda corridor in Hung Yen, moss on the floor tiles, no people

Khánh cổ là những tấm khánh bằng đá hoặc đồng đã có tuổi hàng trăm năm, còn treo ở chùa, đình hoặc nằm trong bảo tàng; chúng khác nhau rõ ở chất liệu, dáng khánh, cách trang trí và dòng chữ khắc, và mỗi khác biệt ấy kể một phần câu chuyện về thời đại làm ra chúng. So với chuông, khánh ít được chú ý hơn, nhưng với người nghiên cứu, một chiếc khánh còn nguyên chữ có thể là tư liệu quý không kém.

Bài này không nhắc lại công dụng của khánh trong sinh hoạt chùa hằng ngày, phần đó bạn có thể đọc ở chuyên mục chuông và khánh trong chùa. Ở đây khánh được nhìn như di sản: chất liệu cổ thường gặp, những dáng khánh hay được mô tả, hoa văn, chữ khắc, và vì sao khánh cổ dễ bị hư hại hơn ta tưởng. Các mô tả phong cách là xu hướng chung giới nghiên cứu hay nêu, không phải tiêu chuẩn để tự định niên đại.

Khánh trong truyền thống Đông Á: từ nhạc khí đến pháp khí

Khánh là một trong những nhạc khí cổ nhất của Đông Á. Trong âm nhạc cung đình Trung Hoa cổ đại đã có những dàn khánh đá treo thành hàng, mỗi tấm cho một cao độ. Ở Việt Nam, nhã nhạc cung đình cũng có biên khánh, tức bộ khánh treo trên giá, bên cạnh biên chung là bộ chuông nhỏ. Khánh ở đây là nhạc khí lễ nghi, mang tính trang trọng của triều đình.

Khi Phật giáo phát triển ở Đông Á, khánh được dùng trong chùa với vai trò pháp khí: báo hiệu, giữ nhịp, mở đầu hay kết thúc một phần nghi lễ, tuỳ nếp từng nơi. Khánh cũng có mặt ở đình làng, đền miếu, gắn với nghi lễ cộng đồng. Vì vậy, khi gặp một chiếc khánh cổ, câu hỏi đầu tiên nên đặt là nó vốn thuộc về không gian nào, chùa, đình hay cung đình, vì điều đó ảnh hưởng đến cách trang trí và chữ khắc.

Ở chùa Việt hôm nay, khánh cổ có khi vẫn được treo ở chỗ cũ nhưng không còn dùng hằng ngày, có khi được cất vào nhà kho, nhà tổ, hoặc đã được chuyển vào bảo tàng. Mỗi nơi có lý do riêng, và việc dùng hay không dùng một chiếc khánh cổ là quyết định của nhà chùa cùng cơ quan quản lý di tích.

Hai chất liệu chính: đá và đồng

Khánh đá. Được ghè, mài từ một phiến đá liền, loại đá chọn phải đặc, mịn, ít vân nứt để cho tiếng trong. Khánh đá cổ thường mỏng hơn ta nghĩ và nặng. Tiếng khánh đá đanh, ngắn, có màu âm khô hơn khánh đồng.

Khánh đồng. Được đúc bằng khuôn, kỹ thuật gần với đúc chuông. Đúc cho phép tạo hình phức tạp hơn: viền uốn, hoa văn nổi, núm gõ, chữ đúc nổi. Tiếng khánh đồng ngân dài hơn khánh đá, và tuỳ hợp kim mà có độ ấm khác nhau.

Điểm yếu của mỗi loại. Khánh đá sợ va đập và rạn theo vân đá; một vết nứt chạy qua thân là tiếng khánh đổi ngay. Khánh đồng sợ ẩm và muối, dễ sinh gỉ hoạt tính ở môi trường ven biển; quai treo bằng đồng hay sắt cũng là điểm yếu theo thời gian.

Dấu vết chế tác. Trên khánh đá có thể thấy vết mài, vết đục; trên khánh đồng có thể thấy đường ráp khuôn, vết sửa nguội. Những dấu vết này là thứ các nhà bảo tàng quan sát kỹ để hiểu kỹ thuật, và cũng là lý do không nên đánh bóng hay mài sửa khánh cổ.

Những dáng khánh hay được mô tả

Dáng khánh cổ được nhiều sách mô tả là dáng cánh cung ngửa, hai đầu cụp xuống, phần giữa nhô lên như mái nhà, gợi hình chữ "nhân" viết theo lối cổ. Đây là dáng cơ bản, gặp ở nhiều khánh đá và khánh đồng sớm. Phần cạnh dưới có khi thẳng, có khi lõm cong lên.

Về sau, đặc biệt ở khánh đồng các thế kỷ gần đây, dáng khánh đa dạng hơn: có khánh tạo dáng đám mây cuộn ở hai đầu, có khánh mang dáng lá đề, có khánh tạo hình con dơi xoè cánh, một đề tài trang trí phổ biến trong mỹ thuật thời Nguyễn. Viền khánh có thể được uốn lượn tinh tế, và phần lỗ treo được thiết kế thành chi tiết trang trí.

Vì dáng khánh được thợ các làng nghề giữ và chép lại qua nhiều đời, chỉ dựa vào dáng thì không định được niên đại. Có khánh đồng mới đúc ở thế kỷ XXI mang dáng y hệt khánh cổ. Dáng khánh chỉ có ý nghĩa khi đặt cạnh chữ khắc, hoa văn, chất liệu và hồ sơ của nơi giữ khánh.

Hoa văn và chữ khắc trên khánh cổ

Hoa văn trên khánh thường tập trung vào phần giữa và hai đầu. Những đề tài hay gặp là rồng chầu, mây, sóng nước, hoa sen, hoa cúc, và ở khánh thời muộn có thêm dơi, chữ thọ cách điệu. Một số khánh có hình mặt trời hoặc vòng tròn ở giữa, đôi khi chính là vị trí gõ. Hoa văn trên khánh đá thường khắc chìm, nông; trên khánh đồng có thể đúc nổi sắc nét.

Chữ khắc trên khánh thường ngắn: tên chùa hoặc đình, niên hiệu, năm, tên người cúng. Có khánh khắc một vài chữ lớn mang ý chúc tụng. Vì bề mặt hẹp, mỗi chữ đều có giá trị thông tin cao, và một chữ mờ có khi làm mất cả niên đại.

Khi chụp ảnh hay ghi chép khánh cổ, hãy chụp cả hai mặt nếu khánh treo ở chỗ nhìn được hai mặt. Nhiều người chỉ chụp mặt trước, trong khi mặt sau lại là nơi khắc lạc khoản. Như với chuông, đọc và dịch chữ khắc nên nhờ người có chuyên môn Hán Nôm, và khi viết, nên dẫn bản đọc đã công bố.

Vì sao khánh cổ dễ hư hại hơn ta tưởng

Khánh trông chắc chắn, nhưng thực tế là một trong những pháp khí cổ dễ hỏng nhất trong chùa. Những nguyên nhân hay gặp:

  • Gõ thử: khách tò mò gõ vào khánh đá bằng vật cứng như chìa khoá, đồng xu, viên đá, để lại vết mẻ và có thể tạo vết rạn.
  • Dây treo mục: khánh treo bằng dây thừng hay móc sắt lâu năm, dây đứt là khánh rơi, khánh đá rơi thường vỡ.
  • Ẩm và rêu: khánh treo hành lang hở chịu mưa hắt, rêu mốc bám vào kẽ hoa văn, muối và axit nhẹ trong nước mưa ăn dần bề mặt.
  • Lau chùi sai cách: dùng giấy nhám, bàn chải sắt hay hoá chất tẩy rửa để "làm sáng" khánh đồng, làm mất lớp gỉ ổn định và cả nét chữ.
  • Sơn phủ: quét sơn, nhũ vàng lên khánh khi trùng tu, che hết bề mặt gốc và dấu vết chế tác.
  • Di chuyển không cẩn thận: khi sửa chùa, khánh bị hạ xuống, xếp vào góc, va vào gạch đá mà không ai để ý.

Hầu hết những hư hại này phòng được bằng ý thức của người trông coi và khách tham quan. Một tấm biển nhỏ nhắc "xin không gõ thử" và một sợi dây treo được kiểm tra định kỳ có thể giữ khánh thêm hàng trăm năm.

Tiếng khánh cổ: vì sao không nên gõ thử để nghe

Người yêu âm thanh thường muốn nghe một chiếc khánh trăm tuổi kêu ra sao. Mong muốn ấy dễ hiểu, nhưng với khánh cổ, mỗi tiếng gõ là một lần thân khánh chịu lực dồn vào một điểm. Khánh đá có cấu trúc lớp, vân đá là những đường yếu tự nhiên; một vết rạn chân chim có sẵn từ lâu có thể lan ra sau vài cú gõ mạnh. Khánh đồng cổ thì có thể đã có rỗ khí, rạn ngầm từ khi đúc hoặc do ăn mòn, và tiếng gõ là lúc những khuyết tật đó chịu ứng suất lớn nhất.

Thêm nữa, vật dùng để gõ thử thường không phải dùi chuyên dụng mà là đồng xu, chìa khoá, viên sỏi nhặt vội. Vật cứng nhỏ tạo lực tập trung cao, để lại vết lõm, vết mẻ trên bề mặt. Hàng nghìn lượt khách, mỗi người gõ một lần, cộng lại là một bề mặt rỗ chi chít.

Nếu muốn biết tiếng khánh cổ, hãy hỏi nhà chùa: có nơi vẫn dùng khánh trong dịp lễ lớn và bạn có thể nghe khi tham dự; có nơi có bản ghi âm do người nghiên cứu thực hiện. Còn khi khánh đã được giữ như hiện vật, sự im lặng của nó cũng là một cách giữ gìn.

Khánh cổ trong bảo tàng và trong hồ sơ di tích

Nhiều khánh cổ hiện nằm trong bảo tàng trung ương và bảo tàng tỉnh, được sưu tầm từ các chùa, đình đã đổ nát hoặc được hiến tặng. Khi xem khánh trong tủ kính, bạn nên đọc kỹ phần chú thích: nơi sưu tầm, niên đại theo đánh giá của bảo tàng, chất liệu. Đó là thông tin đã được kiểm tra, khác với lời kể truyền miệng ở chùa.

Với khánh còn ở chùa đã xếp hạng di tích, hồ sơ di tích thường có danh mục hiện vật kèm mô tả và ảnh. Danh mục này giúp cơ quan quản lý theo dõi tình trạng và là căn cứ khi hiện vật bị mất. Nhà chùa nên giữ một bản sao danh mục, đối chiếu định kỳ với hiện vật thực tế, và cập nhật khi có thay đổi vị trí.

Nếu chùa chưa được xếp hạng, việc tự lập một danh mục đơn giản gồm ảnh, kích thước và lời kể về từng chiếc khánh, chuông, đỉnh cũ vẫn rất đáng làm. Danh mục ấy là bước đầu để sau này cơ quan văn hoá đánh giá giá trị hiện vật, và là bằng chứng quan trọng khi cần trình báo mất mát.

Khi gặp một chiếc khánh cổ ở chùa làng

Nếu bạn là người làng hay khách ghé thăm và thấy một chiếc khánh có vẻ cổ, cách cư xử đúng mực rất đơn giản: ngắm, không chạm; hỏi, không gõ. Người trông chùa hay các cụ trong làng thường biết khánh có từ bao giờ theo lời kể, đã được dùng vào dịp nào. Lời kể ấy nên được ghi lại cẩn thận, ghi rõ là lời kể, vì nó có giá trị dù không phải sử liệu.

Nếu khánh treo nơi mưa hắt, dây treo đã mục, hoặc có vết nứt mới, hãy báo với nhà chùa hoặc người trông coi. Với chùa đã được xếp hạng di tích, việc sửa chữa phải theo quy định và có cơ quan văn hoá tham gia; với chùa chưa xếp hạng, nhà chùa vẫn nên hỏi ý kiến bảo tàng tỉnh trước khi động vào hiện vật cổ.

Còn nếu có ai đó ngỏ ý mua khánh cổ của chùa, đổi lấy khánh mới to đẹp hơn, đó là lúc cả làng cần cẩn trọng. Hiện vật của di tích không phải tài sản riêng để trao đổi, và những cuộc đổi chác như vậy đã làm thất thoát không ít pháp khí cổ khỏi chùa làng Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Khánh đá và khánh đồng, loại nào cổ hơn?

Khánh đá có lịch sử rất lâu đời trong âm nhạc cổ Đông Á, còn khánh đồng gắn với kỹ thuật đúc kim loại phát triển. Tuy vậy cả hai loại đều được làm song song qua nhiều thế kỷ, nên chất liệu không phải là căn cứ để biết một chiếc khánh cụ thể cổ hay mới.

Biên khánh là gì?

Biên khánh là bộ khánh nhiều tấm treo trên một giá, mỗi tấm cho một cao độ, dùng trong nhã nhạc cung đình. Đây là nhạc khí của triều đình, khác với khánh đơn treo ở chùa dùng làm pháp khí trong sinh hoạt nghi lễ.

Khánh cổ bị nứt có sửa được không?

Việc xử lý khánh nứt cần người làm bảo tồn có chuyên môn, vì hàn, gắn keo hay mài sửa sai cách có thể làm hỏng thêm. Với hiện vật thuộc di tích đã xếp hạng, mọi can thiệp phải theo quy định. Trước mắt nên ngừng gõ và giữ khánh ở nơi khô, an toàn.

Vì sao khánh cổ không nên đánh bóng?

Lớp gỉ ổn định trên khánh đồng là lớp bảo vệ tự nhiên, đồng thời giữ lại nét chữ và dấu vết chế tác. Đánh bóng làm mất lớp này, làm mờ chữ, và khiến kim loại bên dưới tiếp xúc trực tiếp với ẩm, dễ bị ăn mòn hơn.

Khánh cổ ở đình và ở chùa có khác nhau không?

Về chất liệu và kỹ thuật thì tương tự, nhưng trang trí và chữ khắc có thể khác vì phục vụ không gian khác nhau. Khánh ở đình gắn với nghi lễ thờ thành hoàng và sinh hoạt làng, khánh ở chùa gắn với nghi lễ Phật giáo theo nếp từng nơi.

Có nên treo khánh cổ ngoài trời cho đẹp không?

Không nên để khánh cổ chịu mưa nắng trực tiếp. Mưa hắt, nắng gắt và độ ẩm thay đổi liên tục làm đá rạn, đồng gỉ nhanh. Nơi treo tốt là dưới mái, khô ráo, thoáng, tránh xa chỗ khách dễ chạm vào.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183