PhapPham.comPháp Phẩm
Mõ, bảng và nhạc khí trong nghi lễ

Mõ cá treo và bảng gỗ ở trai đường: hai pháp khí báo hiệu ít người để ý

Mõ cá dài treo dưới mái hiên và tấm bảng gỗ ở nhà trai là hai pháp khí báo hiệu trong chùa. Bài tả hình dáng, chỗ treo, khi nào gõ và vì sao ít gặp.

Long wooden fish shaped drum hanging from a beam under the eaves of a temple dining hall in Hue, a wooden mallet beside it, rainy afternoon light

Mõ cá treo là một khúc gỗ đẽo hình con cá dài, treo dưới xà hoặc mái hiên, thường ở gần nhà trai; bảng là một tấm gỗ hoặc tấm đồng treo lên để gõ. Cả hai không dùng để giữ nhịp tụng kinh mà để báo hiệu: đến giờ thọ trai, giờ tập trung, giờ làm việc chung. Ở nhiều chùa Việt hôm nay, hai món này ít gặp hơn mõ tròn và chuông, nên người đi chùa dễ đi ngang qua mà không biết tên.

Bài này tả hình dáng, chỗ treo và việc của từng món theo những gì sách phổ thông ghi và nhiều chùa còn giữ. Nếp gõ cụ thể ở mỗi chùa mỗi khác; muốn biết chi tiết, bạn hỏi chư tăng, ni nơi mình sinh hoạt.

Mõ cá treo trông thế nào

Khác chiếc mõ tròn trên bàn tụng, mõ cá treo được đẽo gần đúng hình một con cá: có đầu, có thân dài, có đuôi, vảy được chạm nổi hoặc vẽ bằng sơn. Bụng cá được khoét rỗng theo chiều dài để khi gõ vào thân, tiếng vang ra qua khoang rỗng. Một số chiếc có miệng cá ngậm một viên châu bằng gỗ, nhiều chiếc sơn son hoặc để màu gỗ tự nhiên đã sẫm lại theo năm tháng.

Mõ thường được treo nằm ngang bằng dây hoặc xích vào xà nhà, mái hiên, hay một giá gỗ riêng, ở tầm tay người đứng. Bên cạnh có chiếc dùi gỗ hoặc gậy gỗ nhỏ để gõ. Vì treo lơ lửng, khi gõ thân cá rung tự do, tiếng gỗ khô và vang, nghe được từ khá xa trong khuôn viên chùa.

Trong chữ Hán, cả mõ tròn lẫn mõ cá treo đều có thể gọi là mộc ngư, nên khi đọc sách cũ cần nhìn vào ngữ cảnh. Một số tài liệu dùng thêm những tên riêng cho chiếc mõ cá treo; tên gọi không thống nhất giữa các vùng, các nước dùng chữ Hán, nên ở đây gọi theo cách mô tả dễ hiểu là mõ cá treo.

Gỗ làm mõ cá treo cần chịu được nắng gió vì phần lớn treo ngoài hiên. Thợ thường chọn loại gỗ có thớ mịn, ít cong vênh, phơi kỹ nhiều tháng trước khi đẽo. Khúc gỗ càng dài thì việc khoét bụng càng khó giữ cho thành đều; thợ giỏi nghe tiếng gõ thử ở nhiều điểm dọc thân để biết chỗ nào còn dày cần nạo thêm. Vì thế một chiếc mõ cá lớn, tiếng tốt thường là việc của thợ lâu năm, làm trong nhiều ngày.

Bảng: tấm gỗ, tấm đồng dùng để gõ báo

Bảng là tên gọi chung cho một tấm phẳng treo lên để gõ. Có loại bảng gỗ hình chữ nhật dày, gõ bằng dùi gỗ, tiếng đanh và ngắn; có loại bảng đồng mỏng cắt theo hình đám mây, sách vở hay gọi là vân bản, gõ lên tiếng vang và ngân hơn gỗ. Trên mặt bảng gỗ, ở một số nơi có viết hoặc khắc vài chữ nhắc nhở người tu về sự vô thường của thời gian; những chữ đó mỗi nơi một khác, không có một câu chuẩn chung.

Ở Việt Nam, bảng gỗ và vân bản thường gặp ở những chùa giữ nếp sinh hoạt tập thể theo kiểu tòng lâm, nơi đông tăng chúng ăn ở cùng nhau, hoặc ở những chùa có ảnh hưởng từ các tự viện Trung Hoa, Nhật Bản. Nhiều chùa làng nhỏ không có bảng; việc báo giờ được thay bằng chuông nhỏ, kẻng hay đơn giản là một người đi báo.

Vì không phổ biến như mõ tròn, bảng hay bị nhầm là một tấm biển trang trí. Cách nhận ra nhanh là tìm dấu mòn: tấm bảng được dùng lâu năm thường lõm hoặc bạc màu ở đúng một chỗ, chỗ dùi gõ vào nhiều nhất. Tấm treo mà mặt vẫn nguyên nước sơn, không vết gõ, có thể chỉ để trưng.

Tiếng của bảng gỗ và vân bản cũng khác mõ ở chỗ nó ngắn, khô, dễ nhận ra giữa nhiều âm thanh khác. Đó là lý do bảng hợp với việc báo hiệu: người đang làm việc ở vườn, ở bếp hay trong liêu phòng nghe một tiếng gỗ đanh là biết ngay có hiệu lệnh, không lẫn với tiếng chuông đang ngân hay tiếng mõ trong giờ tụng.

So sánh mõ tròn, mõ cá treo và bảng

Ba món này đều có thể xuất hiện trong một ngôi chùa lớn nhưng làm ba việc khác nhau. Bảng dưới giúp bạn phân biệt khi đi lễ hoặc khi đọc sách cũ.

Mõ trònMõ cá treoBảng (gỗ hoặc đồng)
Hình dángKhối tròn, khe miệng, chạm hai đầu cá hoặc rồngHình con cá dài, bụng khoét rỗngTấm phẳng hình chữ nhật hoặc hình đám mây
Cách đặtTrên nệm, trên bàn tụngTreo ngang dưới xà, mái hiênTreo đứng trên giá hoặc vách
Việc chínhGiữ nhịp khi tụng kinhBáo giờ, gọi tập trungBáo giờ, báo việc chung
Chỗ thường gặpChánh điện, phòng tụng, ban Phật tại giaGần nhà trai, hành langNhà trai, trai đường, nhà khách, liêu phòng
Độ phổ biến ở Việt NamRất phổ biếnÍt hơn, gặp ở chùa lớn hoặc chùa cổKhá hiếm, tuỳ nếp từng chùa

Bảng trên là nét chung để nhận diện. Một chùa có thể dùng mõ cá để báo giờ thọ trai còn một chùa khác dùng bảng gỗ cho đúng việc ấy; cũng có chùa treo cả hai nhưng chỉ còn dùng một. Thấy khác với bảng thì đó là nếp riêng của chùa, không phải sai.

Những lúc mõ cá và bảng được gõ

Giờ thọ trai. Đây là việc được nhắc nhiều nhất. Tiếng mõ cá hoặc tiếng bảng báo cho đại chúng biết sắp đến giờ dùng cơm, mọi người dừng việc và đi về nhà trai. Trong nếp sinh hoạt tập thể, ăn đúng giờ cùng nhau là một phần của kỷ luật chung.

Giờ tập trung đại chúng. Khi cần mọi người tụ lại để nghe thông báo, làm việc chung hay chuẩn bị cho một khoá lễ, có chùa gõ bảng theo một nhịp riêng để người nghe nhận ra đó là tiếng gọi tập trung, không phải tiếng báo ăn.

Giờ thức dậy và giờ nghỉ. Ở một số chùa giữ nếp tòng lâm, ngoài chuông sớm còn có tiếng bảng báo giờ thức, giờ chỉ tịnh. Mỗi nơi sắp xếp khác nhau, có nơi giao hẳn việc này cho chuông.

Báo việc bất thường. Theo một số tài liệu, nhịp gõ dồn dập khác thường được dùng để gọi mọi người khi có việc gấp. Nếp này không phổ biến ở chùa làng Việt và mỗi chùa có quy ước riêng nếu có.

Vì sao mõ cá treo và bảng ít gặp ở chùa Việt hôm nay

Lý do đầu tiên nằm ở quy mô. Mõ cá và bảng sinh ra cho những tự viện đông người, khuôn viên rộng, nhiều dãy nhà, nơi cần một âm thanh riêng cho từng việc. Phần đông chùa làng Việt chỉ có vài vị tăng, ni và một số Phật tử công quả; báo giờ bằng tiếng gọi hay chuông nhỏ là đủ.

Lý do thứ hai là đời sống đổi thay. Đồng hồ, điện thoại, kẻng điện đã thay một phần việc báo giờ. Ở nhiều chùa, chiếc mõ cá treo vẫn còn trên xà như một vật quen thuộc của nếp xưa, nhưng thời gian giữa hai lần gõ thưa dần, có chiếc chỉ còn được gõ vào những dịp đông người như khoá tu, đại lễ.

Dù ít dùng, những chiếc mõ cá và tấm bảng cũ vẫn là chứng tích quý cho người tìm hiểu đời sống tự viện. Gỗ sẫm màu, vết gõ mòn, nước sơn bong là dấu vết của bao năm sinh hoạt. Khi đi tham quan, bạn có thể ngắm, chụp ảnh nếu nhà chùa cho phép, nhưng không gõ thử, vì tiếng gõ có thể bị hiểu nhầm là một hiệu lệnh trong chùa.

Giữ gìn mõ cá treo và bảng gỗ

Treo ngoài hiên nên hai món này chịu mưa tạt, nắng chiếu và gió ẩm nhiều hơn mõ trong chánh điện. Những việc nhiều chùa vẫn làm để giữ cho bền:

  • Kiểm tra dây treo, xích treo và móc trên xà định kỳ; dây mục hoặc móc gỉ có thể làm mõ rơi, nguy hiểm cho người đi bên dưới.
  • Lau bụi bằng khăn khô hoặc hơi ẩm, không dội nước; gỗ hút nước rồi khô nhanh dưới nắng dễ nứt dọc thớ.
  • Mùa mưa ẩm, nếu thấy mốc trắng thì lau khô và để chỗ thoáng gió, tránh xịt hoá chất mạnh lên lớp sơn cũ.
  • Dùi gõ nên có đầu gỗ mềm hơn thân mõ hoặc bọc vải ở chỗ tiếp xúc để không làm mặt gõ lõm và sứt nhanh.
  • Với mõ cá và bảng cổ ở chùa là di tích, việc sơn lại, thay dây hay sửa vết nứt nên báo ban quản lý và để người có chuyên môn làm, không tự ý sơn mới.
  • Nếu treo trên lối đi có trẻ nhỏ chạy chơi, nên nâng độ cao hoặc dời giá treo vào trong để trẻ không đu bám.

Với vân bản bằng đồng, cách lau nhẹ bằng khăn mềm và để lớp màu thời gian tự nhiên thường được ưa hơn đánh bóng. Phần giữ gìn đồ đồng nói chung có bài riêng trong chuyên mục giữ gìn pháp khí của trang.

Đọc về mõ cá và bảng trong sách cũ

Người đọc sách về đời sống tự viện, các quy ước sinh hoạt của tăng chúng, hay truyện ký về chùa xưa sẽ gặp mõ cá và bảng khá thường xuyên, dù ngoài đời ít thấy. Khi đọc, nên nhớ rằng nhiều quy ước trong sách được soạn cho tự viện Trung Hoa xưa với quy mô lớn; chùa Việt tiếp nhận có chọn lọc và thay đổi cho hợp hoàn cảnh.

Vì vậy, gặp một đoạn sách mô tả số tiếng gõ, nhịp gõ cho từng việc, bạn nên hiểu đó là nếp của một nơi, một thời, không phải quy định áp dụng cho mọi chùa Việt hôm nay. Muốn biết chùa nơi mình sinh hoạt có còn giữ nếp nào, cách nhanh nhất là hỏi chư tăng, ni hoặc các Phật tử lâu năm ở đó.

Nếu bạn là người viết nội dung văn hoá hay làm phim tài liệu về chùa, mõ cá treo và tấm bảng là chi tiết hình ảnh đẹp, nói được nhiều về nếp sống tập thể. Hãy xin phép nhà chùa trước khi quay, chụp, và kiểm lại tên gọi với chính chùa đó thay vì lấy một tên chung từ sách.

Câu hỏi thường gặp

Mõ cá treo khác mõ tụng kinh thế nào?

Mõ tụng kinh là khối gỗ tròn đặt trên nệm, dùng giữ nhịp khi tụng. Mõ cá treo là khúc gỗ đẽo hình con cá dài, treo dưới xà hoặc mái hiên, dùng gõ báo giờ thọ trai và gọi đại chúng tập trung, không dùng khi tụng kinh.

Bảng trong chùa là gì?

Bảng là tấm gỗ hoặc tấm đồng treo lên để gõ báo hiệu. Bảng đồng cắt hình đám mây thường được sách gọi là vân bản. Ở Việt Nam bảng khá hiếm, thường gặp ở chùa giữ nếp sinh hoạt tập thể đông tăng chúng.

Vì sao nhiều chùa không có mõ cá treo?

Mõ cá và bảng sinh ra cho tự viện đông người, nhiều dãy nhà. Phần lớn chùa làng Việt nhỏ, ít người, nên báo giờ bằng chuông nhỏ, kẻng hoặc gọi trực tiếp là đủ. Đồng hồ và điện thoại cũng thay một phần việc báo giờ.

Khách tham quan có được gõ thử mõ cá treo không?

Không nên. Tiếng mõ cá và tiếng bảng là hiệu lệnh trong sinh hoạt của chùa, gõ thử có thể làm người trong chùa hiểu nhầm. Bạn có thể ngắm và chụp ảnh nếu nhà chùa cho phép, còn muốn nghe tiếng thì hỏi một vị trong chùa.

Chữ trên bảng gỗ trong chùa có nghĩa gì?

Ở một số nơi, trên bảng có viết hoặc khắc vài chữ nhắc người tu về sự quý giá của thời gian và lẽ vô thường. Nội dung mỗi nơi một khác, không có câu chuẩn chung, nên muốn hiểu đúng chữ trên một tấm bảng cụ thể thì hỏi chính nhà chùa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183